Akibavn

The world of otaku in Vietnam

03/11/2019 | ddnbgroup

Đêm Halloween “kinh dị” tại Shibuya 2019

Đêm Halloween 2019 tại Shibuya, cảnh sát đã được huy động cảnh báo ở mức cao để bảo đảm sự an toàn của người dân. Đã có 9 người bị bắt vì tội trộm cắp, tấn công và sàm sỡ. Mời các bạn theo dõi một số hình ảnh và clip sưu tầm từ các trang mạng xã hội

https://twitter.com/PhotoShibu/status/1189951228832182273

Đám đông quá khích gây ra bế tắc trên đường phố Shibuya khi cảnh sát yêu cầu những người đi bộ phải giữ trật tự khi di chuyển

Hàng ngàn người vui chơi đã xuống đường ở Shibuya tối thứ sáu vừa rồi để tham gia “bữa tiệc” đường phố Halloween 2019 (không chính thức) nổi tiếng nhất ở Tokyo. Vào dịp Halloween năm ngoái cũng không kém phần “kinh dị” , nơi mọi người bị bắt vì lật xe tải, các quan chức Shibuya rất muốn ngăn chặn những cảnh đó tái diễn trong năm nay, với hàng trăm cảnh sát và đội an ninh đặc biêt có trách nhiệm để kiểm soát an ninh trong những đám đông “ma quái”.

Xe cẩu đặc biệt, và xe tải cơ động cũng đã được chuẩn bị rất sẵn sàng. Những thiết bị này hầu như chỉ được “đắp chăn” vào những ngày bình thường

https://twitter.com/JapanHighwayPC/status/1189892755868139520

https://twitter.com/JapanHighwayPC/status/1189892589761126400

Ngoài ra năm nay có vài “quái vật” Halloween khá thiếu vải hơn so với các năm trước

https://twitter.com/tomostarshi/status/1190008397392822272

https://twitter.com/ryota_imai0921/status/1189880325981106176

Shibuya khá nổi tiếng vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, nhưng vào đêm Halloween năm nay, đám đông tăng lên cấp độ khác. Để băng qua được ngã tư đèn xanh đèn đỏ “Shibuya Scramble Crossing” phải mất ít nhất 10 phút

https://twitter.com/AG54262625/status/1189899704445718529

https://twitter.com/165_mmoo/status/1189864607285858304

Bất chấp lệnh cấm rộng rãi đối với việc bán và sử dụng rượu trong một số khu vực, vẫn có những báo cáo về sự phiền toái liên quan. Mặc dù có hơn 6.000 người tập trung tại khu vực cho Halloween, năm nay chỉ có 9 vụ bắt giữ được thực hiện

Như bạn có thể thấy trong video dưới đây,  cảnh sát đã phải bắt giữ nhiều người. Thậm chí, có những thanh niên lái xe qua thành phố trên nắp ca-pô của một chiếc ôtô và sau đó cãi nhau gay gắt với cảnh sát. Sau khi bị chặn lại ngay lập tức họ bị còng tay và đưa vào sau xe cảnh sát.

[box type=”warning”] Theo Sở Cảnh sát Thủ đô Tokyo, chín người bị bắt đều là nam thanh niên, trong đó có một nam thanh niên 18 tuổi, tóc váy của một người phụ nữ và sàm sỡ vào người cô, một sinh viên đại học 22 tuổi đã cãi vã nảy lửa với một cảnh sát chống bạo động, một người đàn ông đã tát một nhân viên cửa hàng vào mặt, và một người đàn ông đã lấy trộm ví từ túi quần.[/box]

Nguồn: NHK

Để theo dõi những bài viết mới nhất của Akibavn? Hãy theo dõi chúng tôi trên Facebook

Share: Facebook Twitter Linkedin
11/01/2016 | Akibavn

Các dạng Otaku ở Nhật Bản

Otaku là từ dùng để chỉ những người quá “nhập tâm” vào một thứ gì đó một cách “điên cuồng, ngốc nghếch”. Ở Nhật Bản, người ta phân ra thành 6 loại otaku.

1. Game Otaku.

https://twitter.com/nunbeeeee/status/658208294629015552?ref_src=twsrc%5Etfw

Đây là loại otaku kinh điển. Mọi người thường không có thành kiến với loại otaku này bởi vì nó quá phổ biến. Hầu hết mọi người đều lớn lên cùng với game, khó có thể bắt họ từ bỏ thói quen đã  có từ thời thơ ấu.

2. Anime Otaku

2

Dạng otaku này cũng khá phổ biến nhưng khó có thể phân định được 1 otaku anime, bởi vì thậm chí bạn xem rất nhiều anime cũng chưa thể gọi là 1 otaku được. Nó dựa vào thể loại anime mà bạn xem. Người xem tất cả các thể loại anime gọi là 1 otaku, người xem anime có nhân vật hầu hết là nữ cũng có thể xem như là 1 otaku. Nhiều người có cái nhìn không thiện cảm về otaku này.

3. Manga Otaku

Ở Nhật Bản, không có ai là chưa từng đọc manga, bởi vì nó là một văn hóa. Khi một người được gọi là một manga otaku, người đó phải rất yêu manga, đọc rất nhiều manga, có lẽ phải lên đến hàng nghìn. Việc sở hữu hơn 1000 manga không phải là điều hiếm. Họ thường hay mơ mộng về các nhân vật ảo, sáng tác fan fiction, doujinshi và tự xuất bản.

https://twitter.com/aoragokuu/status/533933481697370113/photo/1?ref_src=twsrc%5Etfw

4. Idol Otaku
4
Đây là loại otaku tương đối mới, còn gọi là Wota (ヲタ, ota). Văn hóa idol được thành lập cách đây khoảng 10 năm. Nếu bạn có hứng thú với văn hóa này, hãy thử google “AKB48” – idol group thành công nhất ở Nhật Bản. Một số nhóm khác nữa là Arashi, Morning Musume, và C-ute. Dạng otaku này có thể mua một lúc rất nhiều CD của thần tượng chỉ để lấy được tấm vé và có cơ hội vẫy tay cùng thần tượng. Họ cũng tự sáng tạo ra điệu nhảy cho các bài hát của thần tượng.

Dưới đây là video của idol otaku ghi lại cảnh họ nhảy theo bài hát trước sân khấu.

5. Otaku Xe Lửa

5

Otaku này rất thích lại nhà ga để chụp hình xe lửa, thu âm tiếng xe lửa, mua đồ  lưu niệm liên quan đến xe lửa, đi xe lửa và cố gắng chụp hình trên xe lửa. Nói chung … họ yêu xe lửa.

https://twitter.com/norimonosenmon/status/628491618962665473/photo/1?ref_src=twsrc%5Etfw

6. Anime figure Otaku

Otaku này thích thu thập các figure từ các anime, manga, game mà họ yêu thích. Vài figure trị giá hơn 100$. Mặc dù vậy việc thu thập không chỉ bằng dùng tiền mua mà họ có thể có được từ các trò game arcade.

https://twitter.com/yamatopp8010/status/640551168985272320/photo/1?ref_src=twsrc%5Etfw

Source: Wasabi, Japan info.

Share: Facebook Twitter Linkedin
27/09/2015 | Seraphini

Wa-gashi (Hòa quả tử)

Là một người thích nhìn hơn thích ăn, các bạn cùng ad tìm hiểu một chút về Wa-gashi một trong những loại bánh cầu kỳ nhất Nhật Bản nhá.
Nguồn: gokuraku-shujo

Wa-gashi (和菓子) chỉ là tên gọi chung của các loại bánh ngọt “thuần Nhật” làm theo lối truyền thống, thành phần chính gồm bột các loại đậu. “Wa” (Hòa) là tên nước Nhật. Người Nhật tự xưng đất nước họ bằng chữ “hòa”, bắt nguồn từ tư tưởng “dĩ hòa vi quý” mà Thánh Đức (Shōtoku) Thái tử đã dạy dân Nhật từ thời cổ. “Kashi” (quả tử) mang nghĩa là bánh trái, khi đứng sau danh từ khác thì nó biến âm, đọc là “gashi”. Như vậy, “Wa-gashi” mang nghĩa là bánh trái “thuần Nhật”, để phân biệt với bánh trái ngoại lai.
Đi sâu, Wagashi còn phân thành nhiều tầng nhiều lớp với các khái niệm và tên gọi khác nhau.

Một nhánh lớn trong Wa-gashi là Nama-gashi. Nama-gashi (生菓子) là một nhánh lớn của Wa-gashi. Từ “nama” mang nghĩa là sống (tươi). Nama-gashi là tên gọi chung các loại Wa-gashi hấp, chứa nhiều nước trong thành phần và ăn trong ngày, không để được lâu.

Trong Nama-gashi lại phân thành nhiều lớp khác nhau. Những loại sử dụng chất đông Agar được gọi là Nagashi-mono (流し物). Đây là tên gọi chung của những loại như thạch, đông sương Việt Nam. Nagashi có nghĩa là (sự) đổ, thả trôi. Tên gọi bắt nguồn từ phương pháp chế biến. Sau khi nấu Kanten, người ta đổ vào khuôn để định hình.
Kanten (寒天, hàn thiên), gọi theo người Tây phương là Agar, là một loại vật chất sau khi làm đông, sấy khô niêm dịch các loại tảo biển đỏ. Kanten được người Nhật phát hiện đầu tiên, vào thế kỷ 17.

Trong thực phẩm, cũng có dạng thạch từ động vật như bò, lợn, nhưng lại có thành phần hóa học khác với Kanten. Chất keo, thạch động vật thường thấy trong món thịt đông của Việt Nam.

Một loại Nagashi-mono phổ biến là Yōkan (羊羹, dương canh). Yō (dương) là con dê, kan (canh) là món súp, đồ húp. Yōkan (dương canh) nghĩa là canh thịt dê. Nguyên lai, đây là món ăn của người Trung Hoa, khi để nguội thì trở thành chất thạch nhầy nhầy, giống món thịt đông của Việt Nam.
Vậy tại sao canh thịt dê lại trở thành món bánh ngọt truyền thống của nước Nhật? Là vì lý do tôn giáo, thịt dê được thay bằng đậu đỏ. Để kết đông thì người ta dùng Kanten (hàn thiên).

P/s: thời cổ, người Nhật không ăn thịt động vật (trừ cá và một số ít gia cầm) vì theo quan niệm của Phật giáo. Tập quán ăn thịt chỉ mới bắt đầu từ thời Meiji (Minh Trị), khi tiếp xúc với văn hóa Tây phương.

Kingyoku-kan (錦玉羹, cẩm ngọc canh, cũng viết là 金玉羹, kim ngọc canh ) là một loại Nagashi-mono đại diện cho mùa hè, giống như Mizu-yōkan. Người ta cho đường, nước đường vào Kanten (hàn thiên) rồi để đông. Món này có vị ngọt thanh, màu sắc trong suốt hay nửa trong suốt.

Kingyoku-kan thường được trang trí với các vật liệu phụ khác nhau, tạo hình cá vàng, hoa cỏ thú mắt.

Awayuki-kan (淡雪羹, đạm tuyết canh) là một biến thể của Kingyoku-kan. Trong quá trình chế biến, người ta cho thêm lòng trắng trứng. Awayuki là loại tuyết mùa xuân, xốp và rất dễ tan. Món Awayuki-kan cũng vậy, mềm xốp và tan ngay trong miệng.

Kohaku-kan (琥珀羹, hổ phách canh) hay còn gọi là Kohaku-tō (琥珀糖, hổ phách đường), Kohaku-gashi (琥珀菓子) là một biến thể của Kingyoku-kan. Trong quá trình chế biến, người ta cho thêm đường đen và quả dành dành vào để làm Kanten (hàn thiên) nhuốm sắc vàng đặc trưng. Bên trong Kohaku-kan có thể là đậu hay các loại cam quýt.

Kohaku-kan là loại bánh ngọt của mùa hè. Cảm giác khi ăn và vẻ bên ngoài rất đa dạng, phụ thuộc vào tài biến hóa của người thợ.

Mizu-yōkan (水羊羹, thủy dương canh) là một dạng khác của Yōkan. Đúng như tên gọi, Mizu-yōkan chứa nhiều nước hơn. Người ta cho ít Kanten (hàn thiên) và trộn chung với bột đậu rồi đổ vào khuôn nên trạng thái đông thành thạch không chắc như Yōkan.

Mizu-yōkan là phong vật mùa hè, thức thanh tao của những ngày nóng nực. Để lạnh, Mizu-yōkan rất ngon. Vì lẽ đó mà tên món ngọt này còn được dùng như một từ chỉ mùa hè trong thơ Haiku.

Trong Nama-gashi lại chia thành nhiều loại, và một dòng lớn trong số đó chính là Neri-mono (練り物). Động từ “neru” nghĩa là nhào, trộn. Neri-mono là vật được nhào, trộn. Đây là loại Nama-gashi không được nướng qua mà dùng tay nhào bột để cố định hình thù của bánh.

Trong số Neri-mono thì có lẽ Nekiri (練り切り) là loại được biết đến nhiều nhất. Đây cũng là loại bánh được dùng trong Trà đạo, và được gọi là Jō-nama-gashi (上生菓子) trong giới này.
Thành phần của Nekiri gồm lớp nhân bột đậu gọi là Shiro-an (白餡) và bên ngoài là lớp vỏ Gyūhi (求肥) và được nhào trộn nên hình hoa, quả do có độ mềm, dẻo thích hợp. Chủ đề của Nekiri rất phong phú, thay đổi theo khí tiết và là một thứ đặc sản của từng mùa.

Một nhánh lớn khác trong chủng loại Nama-gashi là Yaki-mono (焼き物). Động từ “yaku” nghĩa là đốt, nướng và hình thái danh từ “yaki-mono” nghĩa là đồ nướng. Trong giới Wa-gashi thì Yaki-mono chỉ những loại bánh được làm theo phương pháp nướng, và có nhiều ảnh hưởng của bánh Tây. Dora-yaki là một ví dụ điển hình cho nhánh này và được biết đến rộng rãi bên ngoài nước Nhật nhờ chú mèo máy Doraemon.

Trong nhánh Yaki-mono thì có lẽ Ikkō-kō (一口香, nhất khẩu hương) là loại độc đáo nhất. Đây là đặc sản của vùng Nagasaki, Aichi. Đặc điểm lớn nhất của loại bánh này là bên trong rỗng ruột.
Không phải họ quên đâu. Lớp vỏ bột mỳ bên ngoài bọc lấy phần nhân là nước đường bên trong, sau khi nướng thì nó phình to, tạo thành phần rỗng bên trong. Làm sao để nước đường bám vào thành trong của lớp vỏ? Đó là bí mật nhà nghề.
Vì sao có tên là “nhất khẩu hương”? Vì chỉ cần cắn một miếng cũng thấy mùi thơm sực nức rồi.

Một loại khác trong nhánh Yaki-mono là Kin-tsuba (金鍔). Loại bánh này được công phu ra từ thời Edo, thành phần gồm lớp vỏ bột mỳ pha chút nước bọc lấy nhân đậu bên trong. Từ “kin” nghĩa là vàng kim, và “tsuba” là cái đốc kiếm trong thanh kiếm Nhật. Ban đầu loại bánh này có tên là Gin-tsuba (đốc kiếm bạc), nhưng sau đổi thành Kin-tsuba (đốc kiếm vàng) vì vàng nghe sang hơn bạc.
Kin-tsuba thời Edo có hình tròn như cái đốc kiếm. Đến sau này thì phát sinh thêm dạng tam giác và tứ giác.

Han-nama-gashi (半生菓子) là loại trung gian giữa Nama-gashi và Hi-gashi. Từ “han” (bán) nghĩa là một nữa. Cho thấy đây là loại bánh “ướt” một nửa. Han-nama-gashi có hàm lượng nước dưới 30% và có thể để tối đa chừng 3 tháng.

Hi-gashi (干菓子) là một khái niệm đối lập với Nama-gashi, tuy cùng là Wa-gashi (hai mặt đối lập luôn cùng tồn tại trong một thể thống nhất :v). Từ “hi” nghĩa là phơi khô. Hi-gashi nghĩa đen là bánh khô. Đây là loại bánh có thành phần ít nước, khô và có thể để được lâu.

Uchi-gashi (打菓子), bánh đập, là một nhánh lớn của Wa-gashi. Đây là tên gọi chung của những loại bánh làm từ bột lúa mỳ rang, đường mịn và nhiều nguyên liệu khác trộn với nhau rồi đóng vào khuôn gỗ để định hình. Sau đó người thợ đập mạnh khuôn để phần bánh rơi ra khỏi khuôn.

Rakugan (落雁, lạc nhạn) là một loại trong nhánh Uchi-gashi. Bánh này được làm từ bột nếp, bột đậu nành, lúa mạch, các loại đậu trộn với một ít nước hay nước đường rồi đóng vào khuôn gỗ để tạo hình.

Tên gọi Rakugan (Lạc nhạn) có nghĩa là con nhạn rơi. Có nhiều thuyết giải thích cho tên gọi này, trong đó có thuyết cho rằng vốn ban đầu có loại bánh “Nan lạc cam” (軟落甘) của người Trung Quốc. Sau đó bỏ đi chữ “cam” còn “lạc cam” (Rakukan). Ban đầu, bánh này có rắc mè đen bên trên, trông như bầy nhạn đang xà xuống đất, và đây cũng là một trong tám cảnh đẹp nổi tiếng của xứ Ōmi (Katata Rakugan, bầy lạc nhạn ở Katata) nên từ đó cái tên Rakugan (lạc nhạn) ra đời.

Ngoài cách phân loại theo đặc điểm, Wa-gashi còn được phân loại theo cách chế biến. Những kiểu chế biến Wa-gashi phổ biến là hấp, nướng, làm đông từ Agar (giống thạch, đông sương Việt Nam) và đóng từ bột đường (giống oẳn, hay bánh in Việt Nam).


Chimaki (粽, tống) là loại bánh gạo nếp nhiều điểm giống với các loại bánh chưng, bánh tét, bánh tro (gio), bánh ú Việt Nam. Loại bánh này vốn xuất phát từ Trung Hoa (nơi nó được gọi là tống tử) và truyền đến Nhật vào thời Heian.
Thời Chiến quốc bên Trung Hoa, có danh sĩ người nước Sở là Khuất Nguyên, nổi tiếng văn hay chữ tốt và lòng yêu nước. Can ngăn hôn quân không được, ông nhảy xuống sông Mịch La tự tử vào ngày mùng 5 tháng 5. Thương nhớ ông, hằng năm cứ đến ngày này, dân chúng làm bánh gạo nếp ném xuống sông để cúng Khuất Nguyên. Tết Đoan ngọ ra đời từ đó.

Chimaki ở Nhật được dùng trong lễ Đoan ngọ, và đặc điểm khác biệt lớn nhất so với tống tử Trung Hoa là không còn hình dạng hạt gạo trong chất bột.

Nhiều biến thể của nó có thể thấy ở nhiều nước Đông Nam Á như Cao Miên, Mã Lai, Nam Dương, Tân Gia Ba. Còn các loại bánh Việt như bánh chưng, bánh tét, bánh tro (gio), bánh ú thì có quan hệ gì với Chimaki và tống tử hay không? Điều này chắc chỉ có mỗi mình Lang Liêu mới trả lời được.

Ngoài việc phân loại theo đặc điểm và phương pháp chế biến, Wa-gashi còn được phân loại theo nguyên liệu. Những loại được làm từ bột gạo gọi chung là Beika (米菓, nghĩa đen là “bánh gạo”). Những loại được làm từ đậu thì gọi chung là Tō-gashi (豆菓子, nghĩa đen là “bánh đậu”).

Tō-gashi, hay còn đọc là Kara-kudamono, Kara-gashi, (唐菓子) là tên gọi chung một kiểu bánh được truyền từ Đường quốc sang Nhật Bản thời Heian. Đối với người Nhật, Đường (唐, Tō, Kara) là danh từ không những chỉ nhà Đường, mà còn chỉ cả Trung Hoa đại lục nói chung.

Tō-gashi được làm từ bột gạo, bột mỳ, chế thêm chất ngọt, nhào nặn thành hình hoa quả (trái cây) rồi cuối cùng chiên (rán) trong dầu.

Trên đây chỉ là những loại Wa-gashi chính yếu và thường gặp nhất. Ngoài ra còn rất nhiều loại khác mà trong khuôn khổ một bài viết nhỏ không thể đề cập hết được.

Chỗ đứng của Wa-gashi

So với bánh Tây vốn ít tốn công sức để làm/sản xuất hơn, vị lại phù hợp với đại đa số người tiêu dùng hơn thì bánh Wa-gashi có mùi vị rất hạn chế do đặc trưng giới hạn trong các loại đậu, cũng như công sức đổ ra để chế biến cũng rất lớn, thì rõ ràng Wa-gashi gặp rất nhiều bất lợi khi cạnh tranh với bánh Tây. Thế nhưng, từ thời cổ cho đến nay, Wa-gashi luôn có một chỗ đứng cao trong xã hội Nhật. Một lý do lớn của việc này là sự hậu thuẫn của các buổi tiệc Trà đạo (Sadō). Trong Trà lễ, người ta không dùng bánh Tây để tiếp đãi mà dùng Wa-gashi theo truyền thống.
Giới trà nhân cho rằng vị giác (vật chất) khi đạt tới đỉnh điểm của nó thì con người khó có thể cảm nhận vị ngon hơn được nữa. Để vượt qua giới hạn trong cảm nhận, con người không chỉ cảm nhận bằng mùi vị mà phải cảm nhận bằng cả tinh thần nữa. Vậy yếu tố tinh thần đó là gì?

Đó là sự tiếp đãi chân tình, tấm lòng của người chủ tiệc trà đối với khách nhân. Đó là sự tinh tế trong câu chuyện giữa chủ và khách, của từng động tác pha trà, cũng như sự tinh tế trong món bánh được mang ra mời khách. Những cái tinh tế này là yếu tố tinh thần chính để tiệc trà thăng hoa, làm tâm hồn của chủ và khách thăng hoa, vượt qua những rào cản của thế giới vật chất, của ngôn từ.
Vậy Wa-gashi tinh tế ở điểm nào để trở thành một yếu tố tinh thần làm thăng hoa buổi tiệc trà?
Đó chính là sự tấm lòng của người thợ đã đặt vào sự kỳ công khi làm ra chiếc bánh. Mỗi chiếc bánh Wa-gashi thực sự là một tác phẩm nghệ thuật, không có sự trùng lặp, phản ánh cảm nhận của người thợ đối với khí tiết, với tự nhiên đang thay đổi từng phút từng giây. Để có thể truyền tải hết cái cảm về tự nhiên, về khí tiết vào trong chiếc bánh thì người thợ không chỉ cần có đôi bàn tay khéo léo, mà còn phải có một tâm hồn nhạy cảm, biết rung động trước cái đẹp mong manh trong từng khoảnh khắc của tự nhiên. Cũng vì lẽ đó mà Wa-gashi cũng đòi hỏi ở người thưởng thức nó một khả năng rung cảm tương đương để có thể cảm hết vị ngon của nó. Xét về điểm này thì rõ ràng Wa-gashi không dành cho đại chúng, vốn ưa chuộng những gì rõ ràng như vật chất, vốn là đặc điểm vị giác của các loại bánh Tây. Nhưng cũng vì lẽ đó mà giới trà nhân xem thường bánh Tây, coi đó chỉ là thứ bánh công nghiệp rẻ tiền, hoàn toàn không chứa đựng một chút giá trị tinh thần nào trong nó.

Vị ngọt của bánh, vị béo của kem, mùi thơm nức mũi của hương liệu, màu sắc bắt mắt… là những đặc trưng áp đảo của bánh Tây, mà bất cứ ai miễn là không bị tê liệt các giác quan trên đều có thể cảm nhận được.
Nhưng với Wa-gashi, người “phàm trần” chỉ thấy vị ngọt và mùi hương rất hạn chế của các loại đậu, trong khi những bậc “tiên nhân” thì có thể nhận ra và thưởng thức được rất nhiều thứ khác. Vị ngon của Wa-gashi mang lại nằm ở yếu tố cảm nhận tinh thần là chính.

Giống như một đoạn trong bộ phim “Asuka”, cô thợ bánh đã chinh phục được ban giám khảo với chiếc bánh “tên trộm hồng”. Chiếc bánh có hình dạng một que gỗ mà lũ trẻ con vẫn dùng để khều trộm hồng chín trong vườn nhà hàng xóm. Vì que gỗ đập rụng rất nhiều hồng chín nên vị quả hồng ngấm cả vào que. Lãng mạn, hư cấu như những chiêu thức võ hiệp trong truyện Kim Dung. Cái lãng mạn đó đã vượt khỏi những rào cản ràng buộc của thế giới vật chất trần tục. Đó chính là chân giá trị của Wa-gashi.

-Xin cảm ơn các tiền bối gokuraku-shujo vì bài viết này.

Share: Facebook Twitter Linkedin
06/07/2015 | Akibavn

20 Lý do bạn cảm thấy vui khi được sinh ra tại Nhật Bản.

Trong một khảo sát gần đây, khi được hỏi “Vì sao bạn cảm thấy vui khi được sinh ra tại Nhật Bản” và đây là top 20 câu trả lời.

(more…)

Share: Facebook Twitter Linkedin
18/06/2015 | Akibavn

Kotatsu trong cuộc sống người Nhật

Kotatsu là loại bàn sưởi đặc biệt chỉ có tại Nhật Bản, thường được làm từ gỗ và có độ cao trung bình thấp (thường từ 35.5 tới 43cm), phía dưới có nguồn sưởi ấm dùng để ngồi bệt trong nhà. Cấu tạo của một chiếc bàn sưởi kotatsu Nhật Bản gồm 4 phần: 1 cái khung bàn gỗ (thường có 2 loại vuông hoặc chữ nhật); 1 thiết bị sưởi đặt ở giữa khung gỗ này, 1 tấm chăn dày và một mặt bàn dùng để đặt lên chăn và gắn cố định với phần khung gỗ phía dưới. Tấm chăn dày trùm ra ngoài bàn gỗ được gọi là futon, là một tấm đệm dày (khoảng 5 cm), có bề mặt được làm từ vải cotton. Kotatsu là nơi cả gia đình tụ họp để ăn, ngủ, đọc sách và nhiều sinh hoạt khác
1
Theo một số tài liệu, lịch sử ra đời của  gắn liền với chiếc lò than. Ngày xưa, người Nhật xây một cái lò vuông giữa nền nhà để vừa sưởi ấm, vừa nấu ăn (độ sâu của lò vuông này vào khoảng 40 cm). Sau đó, vào thế kỷ 14 thời Muromachi, người ta đã chế tác ra những cái kệ để đặt bên trên cái lò này. Chiếc Kotatsu đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản như vậy. Chiếc bàn thuở sơ khai này có tên gọi là Hori-gotatsu, nghĩa là “ngọn đuốc”. Đến thời Edo, thế kỷ 17, chiếc Hori-gotatsu có nhiều thay đổi. Một chiếc chăn lớn được phủ lên, vừa để che đi phần lò than bên dưới, vừa để giữ ấm thêm đôi chân của những người ngồi quanh bàn.

Chiếc Kotatsu hoàn thiện với sự phổ biến của chiếu tatami, một yếu tố truyền thống quan trọng khác không thể thiếu trong gia đình Nhật Bản. Chiếc lò than trong Kotatsu được đặt lên trên chiếu tatami và mỗi lần di chuyển kotatsu đến một phòng khác trong căn nhà, người ta chỉ việc dịch chuyển chiếc chiếu chứ không phải sờ tay vào lò than nóng.

Bắt đầu từ giữa thế kỷ 20, những chiếc lò than này dần được thay thế bằng lò sưởi điện, thuận tiện hơn rất nhiều. Từ đó, chiếc bàn sưởi Kotatsu đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân Nhật và cũng trở thành biểu tượng của gia đình đầm ấm, quây quần, sum họp.

Nhắc đến Kotatsu không thể không nhắc đến một gia vị khác của mùa đông – Mikan (quýt trong tiếng Nhật). Đây là loại quả mà chúng ta rất thường gặp với hình ảnh các nhân vật trong anime – manga và J-Drama của Nhật quây quần bên bàn sưởi mùa đông kotatsu, nằm đọc sách hoặc lười biếng nằm khểnh xem tivi trong khi tay vẫn đang…bóc dở những trái quýt vàng lựng. Vào những ngày Tết, các dịp nghỉ lễ mùa đông, Giáng Sinh…các gia đình Nhật Bản bắt đầu mua về…những thùng quýt ngon lành và tranh thủ tận hưởng khoảng thời gian nghỉ ngơi và được phép lười biếng ấy cùng với cả nhà.

Chắc các bạn cũng quá quen thuộc với hình ảnh một bàn sưởi kotatsu – giỏ quýt ngọt – tách trà, một cuốn sách hoặc tivi thường xuyên xuất hiện trong nhiều bộ manga của Nhật Bản đúng không nào ?
3

(Nguồn: Sưu tầm)

Share: Facebook Twitter Linkedin